PDA

View Full Version : Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường



Ngô Văn Khoai
27-11-2011, 04:43 PM
Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường

Theo lời hẹn cách đây không lâu với mèo mun, xin gửi tặng em và các bạn trong tổ ấm nguyentraiandme.net sách nói "Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường".


http://phienbancu.tuoitre.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=163930

I. Giới thiệu:

Đó là câu chuyện về một cô gái không thể cất lên tiếng nói, cũng không nhìn thấy ánh sáng từ khi còn nằm nôi đã trở thành một diễn giả có tầm ảnh hưởng sâu rộng trên thế giới. Đó là câu chuyện về một vận động viên vô địch thế giới đã chinh phục khán giả bằng những bước chân thần tốc đã từng bị tê liệt hoàn toàn mười tám năm trước đó.

Và, động lực nào đã giúp một cậu thiếu niên châu Phi không một xu dính túi có thể hoàn tất cuộc hành trình dài 5.000 km đầy mạo hiểm trong hai năm ròng rã trên chính đôi chân trần của mình để lên đến đỉnh vinh quang?...

Đọc xong quyển sách này, bạn sẽ hiểu vì sao họ đã làm nên những kỳ tích đó - tất cả từ một ý chí kiên định, một sự quyết tâm không gì lay chuyển nổi. Họ - những con người đã dũng cảm vượt qua nghịch cảnh, nỗi sợ hãi và hoài nghi ở bản thân để biến những điều "không thể" thành "có thể".

Trong khi nhiều người chỉ chú tâm vào những hạn chế của bản thân thì có không ít người dám làm và đã làm được những điều "không thể" như thế. Với họ, sự can đảm, ước muốn khám phá và chinh phục những đỉnh cao thôi thúc họ mạnh mẽ hơn bất kỳ những lời cảnh báo "sẽ gặp thất bại" hay "không thể nào". Không có khó khăn nào có thể làm chùn bước được con người có lòng quyết tâm và ý chí cao độ.

Lòng quyết tâm giúp chúng ta vượt qua những rào cản tiềm ẩn trong mỗi cá nhân: sự thiếu tự tin, cách suy nghĩ và thái độ sống không tích cực và nhiều hạn chế khác nữa.

Có phải chỉ những người phi thường mới làm được điều đó? Hay đó là một năng lực bẩm sinh? Thật ra, những người từng làm nên điều kỳ diệu hoàn toàn không phải là siêu nhân hay thần thánh gì cả. Họ chỉ là những con người bình thường. Họ cũng từng nếm trải những đau buồn và thất vọng đời thường. Nhưng, ngay chính trong những khoảnh khắc ấy, họ bộc lộ những phẩm chất khác biệt, những phẩm chất đã giúp họ luôn tiến về phía trước trong khi những người khác chấp nhận đầu hàng, bỏ cuộc.

Bạn sẽ lần lượt gặp gỡ những con người có hoàn cảnh, ước mơ và mục đích sống khác nhau. Nhưng điều chung nhất mà chúng ta có thể nhận thấy là cách họ vượt qua những nghịch cảnh và thử thách cuộc sống. Họ cũng đã từng vật lộn với số phận, từng vấp ngã, từng phạm sai lầm, từng hứng chịu nhiều thất bại. Nhưng cũng chính họ đã tự vực mình đứng dậy, bền gan đi tiếp và vươn lên mạnh mẽ. Những gian truân, thử thách chỉ hun đúc thêm lòng quyết tâm và mang lại cho họ những trải nghiệm quý báu hơn.

Hy vọng câu chuyện của những con người đầy nghị lực ấy sẽ đánh thức những khả năng tiềm ẩn trong mỗi chúng ta. Hãy gìn giữ ước mơ, hãy phấn đấu, hành động và dám đi đến tận cùng để đạt được những gì mình mong muốn - để khẳng định mình và thực hiện những gì mình đã từng cam kết với bản thân, với cuộc sống. Không có điều gì là không thể làm được! Mọi đức tính đều có thể có được qua rèn luyện - bằng ý chí và lòng quyết tâm.

Ý nghĩa cuốn sách sẽ làm bạn suy nghĩ, khơi dậy và thôi thúc những ước mơ và giúp bạn có được những tính cách để trở thành một người không biết đầu hàng trước số phận.

II. Download:

Link: http://www.mediafire.com/?tutg1eq2xy6hdc5

Dung lượng: 130MB

Định dạng: MP3

Các bạn download về, giải nén với password: nguyentraiandme.net

Sau đó có thể nghe trên máy tính, hoặc copy vào máy nghe nhạc, điện thoại... để mỗi khi đi đâu đó có thời gian lại lấy ra nghe.

Nguồn: Sách nói của báo tuổi trẻ. Sách in của NXB First News

Ngô Văn Khoai
02-01-2012, 07:01 PM
Có những con người như thế...


"Vấn đề không phải là ở tuổi tác, ở khả năng hay ở sức mạnh - vấn đề là ở ý chí." Chúng ta đã từng nghe nói về sức mạnh của ý chí và niềm tin. Chúng ta đã từng ngạc nhiên với những con người có nghị lực và ý chí phi thường - những người đã thực hiện và vượt qua những điều tưởng chừng không thể.

Chúng ta đã từng biết câu chuyện về một người phải đơn độc chống chọi với đói khát, giá lạnh và hiểm nguy suốt mấy mươi ngày trong tác phẩm nổi tiếng "Tình yêu cuộc sống" của Jack London. Bằng niềm tin mãnh liệt và một ý chí không khuất phục trước nghịch cảnh và tổn thương, anh đã có sức mạnh để tìm ra con đường sống cho mình trong một hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt.

Chúng ta cũng từng biết câu chuyện về một người phi công trẻ tuổi dũng cảm trong Thế chiến thứ hai. Anh bị thương nặng ở chân trong một trận không chiến một mất một còn với kẻ thù. Sau mười tám ngày bò lê trong bão tuyết để trở về, hai chân anh đã bị hoại thư. Các bác sĩ quyết định cứu lấy mạng sống của chàng trai trẻ bằng cách cắt bỏ đến đầu gối đôi chân của anh. Tình trạng đó khiến anh tưởng chừng mãi mãi tàn phế và giã từ đồng đội.

Nhưng ước mơ được trở lại lái máy bay chiến đấu luôn cháy bỏng trong anh. Khi rời bệnh viện anh quyết tâm luyện tập với một ý chí sắt đá - cho dù bác sĩ, cho dù cấp trên và mọi người khẳng định chắc chắn rằng điều anh muốn làm là không thể nào thực hiện được, khuyên anh đừng cố gắng vô ích nữa!

Nhưng sau cùng - với một quyết tâm không gì lay chuyển được - anh đã làm được điều chưa từng có trong lực lượng không quân Xô viết và cả trong lịch sử ngành hàng không thế giới: Người mất cả hai chân vẫn lái được máy bay tiêm kích hiện đại nhất. Chàng trai trẻ bản lĩnh với đôi chân giả lại tung hoành trên bầu trời và đã bắn hạ được hàng chục máy bay chiến đấu của kẻ thù trong những cuộc đối đầu trên không.

Tên của anh được lan truyền vượt ra ngoài biên giới và là nỗi ám ảnh kinh hoàng của các phi công Đức Quốc Xã lúc bấy giờ. Anh đã được quân đội Xô viết phong tặng huân chương Anh hùng vì lòng dũng cảm vô song của mình. Sự phi thường của anh bắt nguồn từ một ý chí kiên định theo đuổi đến cùng khát vọng của mình.

Và những câu chuyện trong tập sách này một lần nữa khẳng định một cách mạnh mẽ:


NƠI NÀO CÓ Ý CHÍ - NƠI ĐÓ CÓ CON ĐƯỜNG!

Ngô Văn Khoai
06-01-2012, 12:35 PM
Lập kế hoạch để thành công

“Tôi luôn luôn ước mơ thực hiện những điều to tát hơn và tốt đẹp hơn, không chỉ cho riêng mình mà cho gia đình và cả cộng đồng của tôi. Tôi biết mọi việc không thể được hoàn thành ngay lập tức, tất cả đều phải được lên kế hoạch và chuẩn bị thật chu đáo. Tôi đã từng dành 15 năm chuẩn bị bản thân để đương đầu với thử thách.”


http://media.ny1.com/media/2011/5/19/images/Dunhamad3e5030-185c-43c0-8cab-130e2c403cba.jpg

“Cậu điên à?” - Đó là lời cảnh báo của bạn bè đối với Lee Dunham vào năm 1971, khi anh quyết định bỏ nghề cảnh sát và dùng tất cả các khoản tiền tiết kiệm được trong suốt 10 năm ròng để đầu tư vào chuyện kinh doanh nhà hàng mà theo mọi người là đầy rủi ro. Đầu tư cho cái nhà hàng đặc biệt này thực sự là một sự mạo hiểm lớn: làm đại lý nhượng quyền của hãng McDonald’s đầu tiên ở trung tâm New York, ngay trong một khu nổi tiếng về tội phạm, Khu Harlem.

Nhưng Lee có kế hoạch của riêng mình. Trong khi bạn bè chơi bóng trên những lô đất trống của Brooklyn, thì Lee lại lao vào làm việc để kiếm tiền. Cậu đi mua và ký gởi những chai sữa vào tiệm tạp hóa, cậu nhận đánh giày, phát báo và giao hàng đến từng nhà. Từ nhỏ, cậu đã hứa với mẹ rằng cậu sẽ nỗ lực để một ngày nào đó mẹ cậu không còn phải đi giặt thuê kiếm sống nữa. Cậu bảo cậu sắp khởi sự công việc làm ăn riêng. “Đừng nói thánh nói tướng nữa! Lo làm bài đi con”, mẹ cậu bảo. Mẹ cậu biết rõ rằng chưa có người nào trong dòng họ Dunham từng thoát khỏi kiếp lao động nghèo, chứ đừng nói đến chuyện kinh doanh này nọ. Bà cứ nhắc đi nhắc lại với cậu con trai rằng “Sẽ không có con đường nào để con có thể tự mình kinh doanh buôn bán được cả!”.

Nhiều năm trôi qua và Lee vẫn chưa thực hiện được ước vọng của mình. Học xong trung học, anh gia nhập Không quân. Thời gian tại ngũ cũng là thời gian trong anh nảy sinh và nuôi dưỡng ý định một ngày nào đó sẽ làm chủ một nhà hàng gia đình. Anh đăng ký vào trường thực phẩm Không quân, trở thành một đầu bếp giỏi và được phục vụ trong nhà ăn của sĩ quan.

Khi rời quân ngũ, anh làm việc suốt bốn năm liền cho một vài nhà hàng lớn, có cả nhà hàng của khách sạn Waldorf Astoria danh tiếng ở New York. Lee muốn bắt đầu công việc kinh doanh nhà hàng của mình nhưng lại nghĩ mình thiếu nhiều kỹ năng kinh doanh cần có để thành công. Thế là anh đăng ký vào một trường thương mại, buổi tối đi học, ban ngày xin làm cảnh sát.

Trong suốt 15 năm, anh là nhân viên chính thức trong lực lượng cảnh sát. Ngoài giờ làm việc, anh gia công đồ gỗ và vẫn tiếp tục khóa học kinh doanh. “Tôi dành dụm từng đồng xu tôi kiếm được khi làm cảnh sát”, anh nhớ lại. “Trong suốt 10 năm trời, tôi đã không tiêu vặt một xu nào. Không phim ảnh. Không nghỉ mát. Không một trận đấu bóng. Chỉ có đi làm, đi học và ước mơ cả đời là có được công việc kinh doanh riêng của mình”. Đến năm 1971, Lee đã dành dụm được cả thảy 42.000 đô la. Đã đến lúc anh có thể biến ước mơ của mình thành hiện thực.

Ý định của Lee là muốn mở một nhà hàng hạng sang ở Brooklyn. Với kế hoạch kinh doanh trong tay, anh bắt đầu tìm kiếm nguồn tài chính. Nhiều ngân hàng từ chối yêu cầu của anh. Không thể huy động được nguồn vốn để mở nhà hàng riêng, Lee quyết định chuyển sang làm đại lý nhượng quyền. Anh gửi đi rất nhiều đơn đăng ký. Thế rồi anh nhận được thư của McDonald’s đồng ý cho anh làm đại lý với một điều kiện: anh phải mở được các nhà hàng McDonald’s ở bên trong thành phố. McDonald’s muốn tìm hiểu liệu kiểu nhà hàng thức ăn nhanh của họ có thể thành công trong nội thành hay không. Có lẽ Lee là người thích hợp cho việc điều hành nhà hàng đầu tiên đó.


http://i1.sndcdn.com/artworks-000010016934-fwp0sm-crop.jpg?eaa2527

Để có được quyền làm đại lý nhượng quyền, Lee sẽ phải sử dụng tất cả các khoản tiết kiệm của mình và vay thêm 150.000 đô la nữa. Những gì anh đã bỏ công sức, tâm trí và thậm chí là hy sinh trong ngần ấy năm đều được dồn cho một thử thách đầy rủi ro – như bạn bè anh từng nói. Lee đã nhiều đêm không ngủ trước khi anh có thể đưa ra quyết định. Cuối cùng anh đã trung thành với sự chuẩn bị hàng chục năm của mình: anh đã đặt bút ký vào hợp đồng kinh doanh nhượng quyền nhà hàng McDonald’s ở khu ổ chuột đầu tiên tại Mỹ.

Những tháng đầu tiên đúng là thảm họa. Những vụ thanh toán lẫn nhau của các băng đảng, những cuộc đấu súng, rồi nhiều vụ xô xát bạo lực quấy nhiễu nhà hàng khiến khách hàng sợ hãi và tránh xa. Bên trong, nhân viên lấy cắp thức ăn và tiền bạc, đến két sắt cũng thường xuyên bị bẻ khóa. Lee không thể yêu cầu McDonald’s trợ giúp vì chỉ làm vấn đề trầm trọng hơn; các đại diện của McDonald’s cũng quá ngán ngại khi phải mạo hiểm đến khu vực cửa hàng tọa lạc. Lee phải tự mình xoay xở mọi chuyện.

Mặc dù anh đã bị cướp hết hàng bán, tiền lời và phần nào cả sự tự tin, nhưng Lee sẽ không để ước mơ của mình bị tước đoạt. Lee quay lại với những gì mà trước đây anh luôn luôn tin tưởng: chuẩn bị và hoạch định.

Lee biến mọi thứ thành một chiến lược. Trước tiên, anh gởi đến từng tên côn đồ hung hãn một bức thư với những lời lẽ cứng rắn, rằng nhà hàng McDonald’s không phải là chỗ của bọn chúng. Dĩ nhiên, để có tác dụng, anh chuẩn bị cả một số phương án đề phòng bạo lực. Qua ánh mắt bọn chúng, Lee cảm nhận được sự bơ vơ, cô độc mà anh từng nếm trải trong chính gia đình mình. Anh nhận thức được rằng sẽ có hy vọng và cơ hội cho những người hàng xóm này. Anh sẽ chứng minh điều đó. Anh quyết định không chỉ phục vụ bữa ăn cho cộng đồng – anh còn suy tính nhiều biện pháp nhằm xây dựng và phát triển cộng đồng mà anh đang sống.

Lee nói chuyện thẳng thắn và không kém phần thách thức với từng tên một, đồng thời khơi gợi động lực giúp chúng làm lại cuộc đời. Sau đó anh đã làm điều mà nhiều người cho rằng không thể tưởng tượng nổi: anh nhận chúng vào làm việc. Anh thắt chặt công tác điều hành, kiểm tra đột xuất các nhân viên thu ngân, loại trừ chuyện trộm cắp. Lee đã dần dần cải thiện được điều kiện làm việc. Cứ mỗi tuần một lần, anh tổ chức các lớp học về dịch vụ khách hàng và quản lý cho nhân viên. Anh khuyến khích họ phát triển những mục tiêu cá nhân và nghề nghiệp.

Anh luôn nhấn mạnh hai mục tiêu: Một là phải giữ vững và phát triển nhà hàng bằng cách phục vụ khách hàng một cách hiệu quả; hai là nhà hàng của anh phải mở ra lối thoát cho những con người đang trong bước đường cùng. Và nếu nhân viên càng phục vụ khách hàng nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn thì lối thoát ấy càng hữu ích và có ý nghĩa hơn.

Như một nhà hoạt động cho cộng đồng, Lee tài trợ cho một đội điền kinh, giúp trẻ em gặp hoàn cảnh cơ nhỡ trở lại các trung tâm giáo dục của cộng đồng và trường học bằng nhiều suất học bổng. Lee đã xây dựng được một nhà hàng đặt trong khu ổ chuột của New York trở thành đại lý McDonald’s có lợi nhuận cao nhất thế giới thông qua doanh thu 1,5 triệu đô la một năm. Các đại diện của hãng từng không muốn đặt chân đến Harlem trước đây, bấy giờ lại cùng nhau kéo đến cửa hàng của Lee, hào hứng nghe câu chuyện làm ăn của anh. Đối với Lee, câu trả lời rất đơn giản: “Phục vụ khách hàng, phục vụ người làm công và phục vụ cả cộng đồng”.

Nhiều năm qua, Lee đã làm chủ 9 nhà hàng, sử dụng 435 nhân công, phục vụ hàng ngàn bữa ăn mỗi ngày. Và đúng như lời anh từng hứa thuở nhỏ, mẹ anh không còn phải vất vả với nghề giặt giũ cực nhọc. Quan trọng hơn, Lee đã chuẩn bị con đường cho hàng ngàn doanh nhân người Mỹ gốc Phi phấn đấu để biến ước mơ của họ thành hiện thực, giúp đỡ cộng đồng, và nuôi dưỡng niềm hy vọng.

Tất cả những điều này đều là hiện thực – một hiện thực hình thành từ nhận thức của một cậu bé biết ước mơ, hoạch định và chuẩn bị cho tương lai. Trong quá trình phấn đấu không ngừng ấy, cậu đã thay đổi cuộc đời mình, và của cả những người khác nữa: LEE DUNHAM.


“Nghịch cảnh không phải là một tảng đá cản lối bước chân bạn. Hãy xem đó như là một thềm đá nâng bạn bước cao hơn.” - Franco Molinary

lehuuluc
12-01-2012, 09:02 AM
[QUOTE=Ngô Văn Khoai;11044]
Có những con người như thế...


"Vấn đề không phải là ở tuổi tác, ở khả năng hay ở sức mạnh - vấn đề là ở ý chí."

Vấn đề không phải ở ý Chí anh ạ vấn đề phải là thay đổi Hành Vi, phải Take action mới quan trọng. Chỉ khi nào hành động mới có kết quả, chứ ý chí, trí tuệ cũng giống như mớ lý thuyết suông học trên trường thôi , nhớ như in nhé Hành Vi - Hành Vi - Hành Vi.....
Trước đây có một người nói vũ khí lợi hại nhất của sự thành công là " Học nhanh hơn đối thủ " giờ đây nó phải là " Tạo kết quả nhanh hơn đối thủ'
trước đây đắc nhân tâm dạy là " hãy đối xử với người khác theo cách mình muốn được đối xử" giờ đây nó phải là " hãy đối xử với người khác theo cách họ muốn được đối xử " điều này em học được nhờ học khóa học NLP của Singapore đấy ạ. anh cho em số ĐT đi hôm nào bên em làm chương trình ở Hà Nội em mời anh đi tham gia. Nghe những chuyên gia thuyết giảng về vấn đề này hay lăm, có một số thứ gọi là " cơ chế thành công" mà chỉ số ít người biết. trước đây cứ đọc sách thấy AdamKhoo giỏi vì kiếm được 1 triệu đô năm 26 tuổi nhưng đi mới biết Thái Bình nhà mình có TS.Nguyễn Mạnh Hùng - CEO Thái Hà Book còn có 1 triệu đô khi vừa bước sang tuổi 25. và 1 triệu đô của thầy cách 1 triệu đô của AdamKhoo 26 năm. Tự hào về người Viêt Nam.

Ngô Văn Khoai
12-01-2012, 03:25 PM
Thanks, mình sẽ nhắn số vào máy của Lực nhé. Ah mà có lần hẹn khi nào có đ/k cafe mà chưa thực hiện được.

Những cái Lực nói tất nhiên là có lý rồi. Tuy nhiên mình thấy trong những câu chuyện mà "Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường" đăng tải, có một điểm chung là những con người trong đó đều là những người luôn trong trạng thái Action rất cao, mà để cho cơ thể luôn trong trạng thái đó nhất định họ phải có ý chí cao hơn những người bình thường khác. Ý chí ở đây theo mình là nền tảng tinh thần để thúc đẩy hành động. Ý chí không phải là phương pháp, cũng không phải là một hành động cụ thể. Do đó cũng không hẳn là lý thuyết suông. Những hành động, việc làm, những nỗ lực tột cùng của những người thành công, ngoài những vấn đề như phương pháp, may mắn, thời thế, ... ra, thì những hành động để đạt được thành công đó chính là những kết quả "nhìn thấy" từ ý chí trong con người họ. Tất nhiên để coi là "có ý chí", hay "đạt được thành công" thì cũng tùy từng hoàn cảnh. Cùng một việc, với người này có thể coi là rất thành công, nhưng với người khác thì lại là quá nhỏ nhoi, không đáng để làm... Và con đường đi đến thành công cũng muôn nẻo, mà những con đường mang tên Adam Khoo, hay Nguyễn Mạnh Hùng... cũng chỉ là một trong những nhánh trong đó. Mỗi chúng ta cần phải căn cứ vào nền tảng của bản thân, điều kiện và hoàn cảnh của mình... và nhiều yếu tố khác nữa để hoạch định con đường cho chính mình sao cho có thể đạt được tỷ lệ thành công cao nhất!

lehuuluc
12-01-2012, 05:31 PM
Thanks, mình sẽ nhắn số vào máy của Lực nhé. Ah mà có lần hẹn khi nào có đ/k cafe mà chưa thực hiện được.

Những cái Lực nói tất nhiên là có lý rồi. Tuy nhiên mình thấy trong những câu chuyện mà "Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường" đăng tải, có một điểm chung là những con người trong đó đều là những người luôn trong trạng thái Action rất cao, mà để cho cơ thể luôn trong trạng thái đó nhất định họ phải có ý chí cao hơn những người bình thường khác. Ý chí ở đây theo mình là nền tảng tinh thần để thúc đẩy hành động. Ý chí không phải là phương pháp, cũng không phải là một hành động cụ thể. Do đó cũng không hẳn là lý thuyết suông. Những hành động, việc làm, những nỗ lực tột cùng của những người thành công, ngoài những vấn đề như phương pháp, may mắn, thời thế, ... ra, thì những hành động để đạt được thành công đó chính là những kết quả "nhìn thấy" từ ý chí trong con người họ. Tất nhiên để coi là "có ý chí", hay "đạt được thành công" thì cũng tùy từng hoàn cảnh. Cùng một việc, với người này có thể coi là rất thành công, nhưng với người khác thì lại là quá nhỏ nhoi, không đáng để làm... Và con đường đi đến thành công cũng muôn nẻo, mà những con đường mang tên Adam Khoo, hay Nguyễn Mạnh Hùng... cũng chỉ là một trong những nhánh trong đó. Mỗi chúng ta cần phải căn cứ vào nền tảng của bản thân, điều kiện và hoàn cảnh của mình... và nhiều yếu tố khác nữa để hoạch định con đường cho chính mình sao cho có thể đạt được tỷ lệ thành công cao nhất!

anh nói quá đúng ạ.Hôm trước đi học thầy Vas dạy em một cái là kỹ thuật " kích leo" hay còn gọi là tâm thái xuất sắc. lúc nào làm việc cũng hừng hực khí thế. Và thầy Việt nói ở Việt Nam để xuất sắc rất dễ vì người Việt mình cái gì cũng biết nhưng cái hành động thì chỉ có số ít. thầy tặng bên em một câu đó là : Know it - Nothing, Do it - Not enough, Make it - Happen " .Càng nghĩ càng thấy hay. Hèm Nguyễn Trãi nhà mình mà tổ chức được một nhóm để nghiên cứu về cái này thì tuyệt vời anh em mình ai cũng xuất sắc hehehe được chọn em sẽ chọn anh dẫn dắt anh em về mảng Mindset này.

ThaiBinhPhat
13-01-2012, 02:21 PM
[QUOTE=Ngô Văn Khoai;11044]
Có những con người như thế...


"Vấn đề không phải là ở tuổi tác, ở khả năng hay ở sức mạnh - vấn đề là ở ý chí."

Vấn đề không phải ở ý Chí anh ạ vấn đề phải là thay đổi Hành Vi, phải Take action mới quan trọng. Chỉ khi nào hành động mới có kết quả, chứ ý chí, trí tuệ cũng giống như mớ lý thuyết suông học trên trường thôi , nhớ như in nhé Hành Vi - Hành Vi - Hành Vi.....
Trước đây có một người nói vũ khí lợi hại nhất của sự thành công là " Học nhanh hơn đối thủ " giờ đây nó phải là " Tạo kết quả nhanh hơn đối thủ'
trước đây đắc nhân tâm dạy là " hãy đối xử với người khác theo cách mình muốn được đối xử" giờ đây nó phải là " hãy đối xử với người khác theo cách họ muốn được đối xử " điều này em học được nhờ học khóa học NLP của Singapore đấy ạ. anh cho em số ĐT đi hôm nào bên em làm chương trình ở Hà Nội em mời anh đi tham gia. Nghe những chuyên gia thuyết giảng về vấn đề này hay lăm, có một số thứ gọi là " cơ chế thành công" mà chỉ số ít người biết. trước đây cứ đọc sách thấy AdamKhoo giỏi vì kiếm được 1 triệu đô năm 26 tuổi nhưng đi mới biết Thái Bình nhà mình có TS.Nguyễn Mạnh Hùng - CEO Thái Hà Book còn có 1 triệu đô khi vừa bước sang tuổi 25. và 1 triệu đô của thầy cách 1 triệu đô của AdamKhoo 26 năm. Tự hào về người Viêt Nam.
Mr Nguyễn Mạnh Hùng ah!
Mình có xem ti vi & nghe ông nói chuyện rất hay. Dạo Ông học bên Liên Xô (cũ), Ông được một người đi trước chỉ đường cho làm ăn: "đổi các loại tiền of tất cả các nước ra đồng Rúp - ăn % chênh lệch", quả là cao thủ vì món này rất nhàn mà kiếm được kha khá.
Ông còn là người đầu tiên of Việt Nam "Tết sách", Ông rất quý trọng sách & đặc biệt là Ông rất rất chăm tập thể dục vào buổi sáng - sau đó tắm nước lạnh, mặc dù vào mùa đông trời rất rét, riêng môn tập thể dục - tắm nước lạnh of Ông cũng đáng khâm phục rồi. :p

Ngô Văn Khoai
14-01-2012, 10:31 PM
he, thế là mình cũng giống bác Nguyễn Mạnh Hùng được 1 điểm rồi, đó là ... tắm nước lạnh mùa đông. Năm nay đến thời điểm này vẫn chưa phải tắm bằng nước nóng... học thêm bác ấy cái tập thể dục buổi sáng nữa vậy ... :D

Ngô Văn Khoai
13-02-2012, 01:49 AM
Cuộc bộ hành và sứ mệnh cao cả

Với hành trang là năm ngày lương thực đi đường, một quyển Kinh Thánh, một cuốn sách có tựa đề "Hành hương" (The Pilgrim’s Progress), cùng với một chiếc rìu làm vũ khí tự vệ và một tấm chăn, Legson Kayira hăm hở bắt đầu cuộc hành trình của đời mình.


http://covers.openlibrary.org/b/id/6604456-L.jpg

Cậu sẽ phải vượt qua một chặng đường dài từ Nyasaland (Cộng hòa Malawi ngày nay), nơi bộ tộc cậu đang sinh sống, ngược lên phía Bắc rồi đi về hướng Đông tới Cairo (Thủ đô Ai Cập) để lên tàu sang Mỹ tìm kiếm một tấm bằng đại học. Đó là vào tháng 10 năm 1958, lúc cậu gần 17 tuổi. Cha mẹ cậu mù chữ nên chẳng biết nước Mỹ ở đâu và xa gần thế nào. Họ chỉ biết cầu chúc cho cậu thượng lộ bình an.

Với Legson, chuyến đi này bắt nguồn từ một ước mơ – dù đối với nhiều người đó chỉ là một sự điên rồ – một ước mơ đã khiến cậu nung nấu quyết tâm được đi học. Cậu muốn mình giống thần tượng của cậu : Abraham Lincoln, một con người đi lên từ nghèo khổ rồi trở thành Tổng thống Mỹ và đấu tranh không mệt mỏi cho phong trào giải phóng nô lệ. Rồi cậu cũng muốn mình giống Booker T. Washington, người dám đứng lên phá bỏ xích xiềng nô lệ, trở thành nhà cải cách, nhà giáo dục vĩ đại, người đã mang lại niềm tin và phẩm giá cho cả nhân dân Mỹ.

Như các thần tượng của mình, Legson cũng muốn phục vụ nhân loại, cậu muốn làm một điều gì đó thật khác biệt cho thế giới này. Để nhận rõ mục đích của mình, cậu cần phải học, và học tại một trường hạng nhất. Vì vậy, cách tốt nhất là đến Mỹ.

Hãy khoan nghĩ đến việc Legson không có một xu dính túi và bằng cách nào cậu có đủ tiền mua vé tàu đi Mỹ? Hãy khoan bàn chuyện cậu không hề có ý niệm gì về một trường đại học khi bước chân xuống tàu, và ngay cả nếu có, cậu cũng không biết mình có được chấp nhận vào học hay không? Cũng đừng tự hỏi làm thế nào Legson có thể vượt 5.000 km xuyên qua lãnh địa của hàng trăm bộ tộc nói hơn năm mươi thứ tiếng khác nhau mà chẳng có thứ tiếng nào quen thuộc với cậu?

Các bạn đừng bận tâm đến những câu hỏi ấy, bởi đó là những điều Legson phải làm và đã làm được. Trong suy nghĩ của cậu lúc đó không có gì ngoài khát vọng được đặt chân lên vùng đất mà cậu nghĩ có thể thay đổi số phận của mình.

Không phải lúc nào cậu cũng kiên định như thế. Khi còn nhỏ, đôi lần cậu lấy cái nghèo của mình để biện hộ cho sự thua kém trong việc học và những thất bại của bản thân. Cậu từng tự nhủ rằng “Mình chỉ là một đứa con nhà nghèo, biết làm sao bây giờ!”. Như nhiều đứa trẻ khác trong làng, thật dễ hiểu khi Legson cũng cho rằng học hành đối với một đứa con nít Karongo tỉnh lẻ chỉ tổ phí thời gian. Nhưng sau khi đọc những quyển sách do các nhà truyền giáo trao tặng, cậu phát hiện ra thế giới còn có một Abraham Lincoln và một Booker T.Washington.

Câu chuyện về hai bậc vĩ nhân này đã vén đám mây mờ đang che phủ cuộc đời cậu và cậu tin tưởng rằng trước hết cậu cần phải học. Thế là cậu nung nấu ý định đi Cairo từ đó.

Sau năm ngày cuốc bộ khó khăn trên vùng đồi núi gồ ghề đầy đá tai mèo thuộc Châu Phi hoang dã, Legson chỉ đi được vỏn vẹn 50 km trong khi lương thực mang theo đã cạn, nước uống đã hết và không tiền bạc trong tay. Hoàn thành chặng đường 4.950 km còn lại quả là chuyện không thể tưởng tượng được.

Nhưng nếu quay trở về thì đồng nghĩa với bỏ cuộc, là cam phận với cuộc sống nghèo khó và dốt nát.

Thế rồi, cậu tự hứa với lòng mình: “Mình sẽ cố gắng đến hơi thở cuối cùng nhất định không bao giờ dừng bước nếu chưa đến được nước Mỹ”. Và cậu lại tiếp tục cuộc hành trình. Có những đoạn đường cậu đi cùng với người lạ, nhưng phần lớn thời gian - cậu làm kẻ lữ hành đơn độc. Đến mỗi ngôi làng mới, cậu thăm dò kỹ lưỡng trước khi tiến vào vì không biết họ sẽ có thái độ thân thiện hay thù địch đối với cậu. Đôi khi, cậu cũng kiếm được việc làm và một chỗ trú ngụ qua đêm.

Phần lớn của cuộc hành trình thì cậu thường xuyên ngủ dưới trăng sao. Cậu tìm kiếm trái rừng và bất cứ loại cây cỏ nào có thể ăn được để sống qua ngày. Cậu trở nên gầy gò và ốm yếu dần theo cuộc hành trình. Đó là chưa kể một trận sốt rét thập tử nhất sinh mà cậu đã trải qua. Trời quả không phụ lòng người, cậu được vài người tốt bụng dùng thảo dược cứu chữa và cho trú lại cho đến khi hết cơn bạo bệnh.

Kiệt sức và xuống tinh thần trầm trọng, một lần nữa cậu lại muốn quay về. Cậu lại lấy lý lẽ rằng quay về sẽ tốt hơn tiếp tục cuộc hành trình ngu xuẩn ngốc nghếch, thậm chí là liều mạng này.

Chán nản đến cùng cực, Legson đã lật lại những trang sách mà cậu vẫn luôn mang theo bên mình. Những dòng chữ quen thuộc làm cậu tin tưởng trở lại vào mục đích của mình. Thế là cậu lại tiếp tục cuộc hành trình dài vô tận.

Ngày 19/01/1960, tức mười lăm tháng sau khi bắt đầu chuyến bộ hành thiên lý của mình, Legson đi được gần 1.600 km và đến Kampala, thủ đô của Uganda. Bây giờ, cậu đã mạnh mẽ hơn về vóc dáng và khôn ngoan hơn trong cách sinh tồn. Cậu ở lại Kampala sáu tháng và làm đủ thứ nghề. Có điều đặc biệt là cậu luôn dành từng phút rỗi rãi để vào thư viện và đọc ngấu nghiến mọi thứ. Ở thư viện, tình cờ cậu bắt gặp một thư mục nói về các trường đại học Mỹ. Hình ảnh một ngôi trường nguy nga bề thế nhưng thân thiện in hình trên nền trời trong xanh, thanh thoát với những đài phun nước và những thảm cỏ được cắt tỉa khéo léo, lại được bao quanh bởi núi non hùng vĩ làm cậu nhớ đến những đỉnh núi cao vời, uy nghi nơi quê nhà.

Đại học Skagit Valley ở vùng núi Vernon, tiểu bang Washington, đã trở thành hình ảnh thực tế đầu tiên trên con đường đi tìm tương lai tưởng như vô vọng của Legson. Ngay lập tức cậu viết đơn gửi hiệu trưởng nhà trường, trình bày hoàn cảnh của mình và xin một suất học bổng. Cùng lúc, cậu cũng cố gắng vét cạn túi tiền hạn hẹp của mình để gửi đơn đến vài trường khác vì sợ rằng trường Skagit không chấp nhận đơn của cậu. Nhưng Legson không cần phải làm thế. Vì quá ấn tượng trước quyết tâm của cậu nên ngài hiệu trưởng trường Skagit không những cho phép Legson nhập học mà còn cấp cho cậu một suất học bổng và giới thiệu cho cậu một việc làm thêm để kiếm tiền trang trải chi phí ăn ở. Một phần khát vọng của Legson đã trở thành hiện thực.

Nhưng con đường của Legson vẫn còn rất nhiều chướng ngại phía trước. Theo luật pháp Mỹ, cậu phải có hộ chiếu và thị thực nhập cảnh. Nhưng để có hộ chiếu, cậu phải xuất trình giấy khai sinh. Khó khăn hơn nữa, để được cấp thị thực, cậu cần phải có một tấm vé khứ hồi khi đến Mỹ. Một lần nữa cậu lại cần đến bút và giấy. Cậu viết thư cho các nhà truyền giáo, những người đã dạy dỗ cậu từ tấm bé. Cuối cùng, mọi chuyện cũng được lo liệu ổn thỏa, trừ tấm vé máy bay khứ hồi để được cấp thị thực vào Mỹ.

Không hề nao núng, Legson tiếp tục cuộc hành trình đi Cairo với niềm tin rằng thế nào cậu cũng kiếm được đủ số tiền cần thiết cho việc này. Cậu tự tin đến mức vét hết những đồng xu cuối cùng mua một đôi giày mới để khỏi phải đi chân không qua cổng trường Skagit Valley.

Ngày tháng trôi qua, tin tức về cuộc hành trình dũng cảm của cậu bắt đầu lan rộng. Vào lúc cậu đến Khartoum (Thủ đô của Sudan) và rơi vào tình cảnh rỗng túi và kiệt sức, thì huyền thoại Legson Kayira đã tạo ra một nhịp cầu nối lục địa Châu Phi với Vernon, Washington. Sinh viên trường Skagit Valley cùng sự đóng góp của người dân địa phương đã gửi đến cậu 650 đô la để mua vé khứ hồi sang Mỹ. Khi biết tin này, Legson đã bật khóc vì lòng biết ơn và nỗi vui mừng trước tấm lòng của các vị ân nhân của mình.

Tháng 12 năm 1960, sau cuộc hành trình dài hơn hai năm, cuối cùng Legson Kayira cũng đã đặt chân lên đất Mỹ. Cậu hãnh diện bước vào ngưỡng cửa Đại học Skagit Valley với hai quyển sách báu ôm chặt trong tay.

Câu chuyện về Legson chưa kết thúc ở đó. Sau khi tốt nghiệp đại học, cậu học lên nữa và trở thành giáo sư Chính trị học của Đại học Cambridge nước Anh, đồng thời là một tác giả có uy tín trên thế giới. Như hai thần tượng của mình - Abraham Lincoln và Booker T. Washington - Legson Kayira đã vươn lên từ một khởi đầu vô cùng khó khăn và đã hoàn cải thành công số phận của mình. Legson đã tạo nên một sự khác biệt và thực sự trở thành ngọn đèn soi sáng cho những người đi sau tiếp bước theo.


“Không như những người khác, tôi tin rằng số phận không tạo ra tôi, mà chính tôi mới là người tạo ra số phận của mình.” - Legson Kayira.

Ngô Văn Khoai
28-02-2012, 03:22 PM
Một huyền thoại sống

“Thật khôi hài, trước đây tôi đua để sống, giờ tôi chỉ muốn sống để đua.” Lance Armstrong, tay đua người Mỹ 7 lần liên tiếp vô địch vòng đua danh giá nhất thế giới Tour de France, sinh ngày 18/09/1971 tại Plano, Texas, Hoa Kỳ.


http://www.bullcitystateofmind.com/storage/corvos_armstrong.jpg?__SQUARESPACE_CACHEVERSION=13 05921804903

Sự nghiệp thể thao và thành tích thi đấu xuất sắc của Lance Armstrong là niềm khao khát của nhiều vận động viên đua xe đạp lẫn các môn thể thao khác. Nhưng trở thành huyền thoại sống như anh có lẽ chỉ có một vài người.

Liên tiếp bốn năm 2003, 2004, 2005, 2006, Lance được Kênh truyền hình thể thao ESPN trao tặng giải thưởng Vận Động Viên Xuất Sắc Nhất của năm. Từ năm 2002 đến 2005, Liên minh Báo chí Hoa Kỳ bầu chọn anh là Nam Vận Động Viên Xuất Sắc Nhất Của Năm. Đài BBC cũng từng trao Giải thưởng Người Nước ngoài Nổi tiếng Nhất năm 2003 cho anh.

Nhưng danh hiệu lớn hơn cả là sự “chiếm hữu” cả tên gọi cuộc đua vòng quanh nước Pháp “Tour de Lance” (Cuộc đua của riêng Lance) mà truyền hình, báo chí và người hâm mộ thân ái dành cho anh. Thật vậy, liên tiếp từ năm 1999 đến 2005, Lance Armstrong liên tục mặc áo vàng chung cuộc của cả 7 cuộc tranh tài được mệnh danh là khắc nghiệt nhất hành tinh này.

Đối với một người bình thường, đạt được kỳ tích trên đã là khó. Riêng với Lance Armstrong, điều đó còn khó khăn gấp bội.

Vì sao?

Lance Armstrong bắt đầu sự nghiệp thể thao là một vận động viên ba môn phối hợp (chạy – bơi – đua xe đạp). Mười bốn tuổi, anh đã tham gia tranh tài cùng các vận động viên đàn anh. Ba năm sau đó, ở tuổi mười bảy, anh xuất hiện trên trang bìa Tạp chí Triathlete đồng thời nhận được lời mời tham gia Đội tuyển Trẻ Quốc gia (Mỹ) bộ môn đua xe đạp.

Tuy nhiên, anh chỉ tham dự các giải nghiệp dư. Sau khi đoạt chức vô địch cuộc đua xe đạp nghiệp dư toàn nước Mỹ năm 1991 và về thứ 14 trong kỳ Olympics Barcelona 1992, Armstrong quyết định chuyển sang thi đấu chuyên nghiệp. Tại vòng đua Clasica San Sebastian, cuộc đua đẳng cấp chuyên nghiệp lần đầu tiên của mình, anh cán đích … cuối cùng. Tuy nhiên, một năm sau đó, anh độc diễn trên đường đua Oslo, Na Uy và đoạt chức vô địch thế giới đầu tiên. Chiến thắng của anh ấn tượng đến độ anh được nhà vua Na Uy mời vào cung yết kiến, nhưng lúc đầu anh từ chối vì mẹ anh không có tên trong thiệp mời. Vào phút cuối, nhà vua đã mời cả hai mẹ con anh vào cung thăm hỏi và khoản đãi.

Anh tiếp tục thành công ở Đội đua Motorola, nơi anh thắng một số chặng của Tour de France vào các năm 1993 và 1995. Cũng trong năm 1995, anh đoạt chức vô địch Giải đua xe đạp Ngoại hạng Mỹ, về nhất giải Tour DuPont, Pháp (sau khi chấp nhận vị trí hạng nhì năm trước đó, 1994). Năm 1996, anh lại về nhất Tour DuPont và xếp hạng 9 trong số các tay đua xuất sắc nhất thế giới. Tuy nhiên, cuối năm 1996, anh bỏ Tour de France và đạt thành tích đáng thất vọng trong cuộc tranh tài Olympics Atlanta 1996 ngay tại đất Mỹ, quê hương anh.

Thành tích kém cỏi bất ngờ này là dấu hiệu của một tai họa sắp sửa giáng xuống cuộc đời anh. Nhưng đồng thời, đó cũng là sự khởi đầu của một huyền thoại.

Ngày 02 tháng 10 năm 1996, Armstrong được chẩn đoán bị ung thư tinh hoàn giai đoạn ba, đã di căn lên phổi và não. Các bác sĩ bảo rằng anh chỉ còn 40% cơ hội sống sót. Thực ra, sau này, khi anh đã khỏi bệnh, một trong các bác sĩ của anh nói lại rằng khi đó cơ hội sống của anh chỉ ở mức 3%. Họ nói thế vì xem đó như một liệu pháp tâm lý nhằm tăng thêm hy vọng cho anh mà thôi.

Ngày 02 tháng 10 sau đó trở thành ngày kỷ niệm hàng năm của cả Armstrong lẫn Hãng giày Nike (nhà tài trợ trang phục thi đấu cho Lance). Nike tuyên bố dành 1 đô la trong mỗi đôi giày size 10//2 mà hãng này bán được để tặng cho Quỹ Lance Armstrong, được sáng lập vào năm 1997.

Kỳ lạ thay, sau cuộc phẫu thuật cắt đi tinh hoàn phải và hai vùng tổn thương ở não cùng với một đợt hóa trị liệu do Đại học Y khoa Indiana thực hiện, Lance dường như khỏi bệnh. Những tưởng một liều hóa trị tiêu chuẩn cũng đủ kết thúc cuộc đời trên lưng ngựa sắt của anh vì các tác dụng phụ do thuốc gây ra làm suy giảm nghiêm trọng chức năng bình thường của phổi. Đằng này anh phải hấp thụ một liều hóa chất tấn công mạnh hơn gấp nhiều lần, có thể hủy hoại hoàn toàn hai lá phổi của anh, nhưng anh lại không hề hấn gì.

Trong quá trình hồi phục, Lance quay lại luyện tập, đội Cofidis lúc này đã hủy hợp đồng với anh. Nhưng sau đó không lâu, anh đầu quân cho đội Bưu điện Mỹ (United States Postal Service Pro Cycling Team), một đội mới thành lập. Và, năm 1998, chưa đầy hai năm sau ngày tai họa ập đến, anh đánh dấu sự trở lại đường đua của mình bằng vị trí thứ tư ở cuộc đua Vuelta a Espana, Tây Ban Nha. Kể từ giây phút đó, Armstrong đã ghi dấu thành tích đáng tự hào nhất của mình là chiến thắng căn bệnh ung thư.

Ngày 18 tháng 10 năm 2001, năm năm sau ngày bị phát hiện ung thư, Lance Armstrong nhận được một phiếu khám chữa bệnh hoàn toàn “sạch”. Anh đã chiến thắng bệnh tật; hay nói cách khác, bệnh tật đã không thể đánh bại anh.

Tour de “Lance”

Sự hồi sinh thực sự của Armstrong đến vào năm 1999, khi anh đoạt chức vô địch Tour de France lần thứ nhất, bỏ xa người về nhì đến hơn 6 phút. Rồi lần thứ hai, thứ ba, cho đến chiếc áo vàng chung cuộc lần thứ 7 (liên tiếp) vào năm 2005, hầu như anh luôn giữ khoảng cách với người về nhì như thế, trừ năm 2003 là 1’01” trước Jan Ulrich (Đức) và năm 2005 là 4’40” trước Ivan Basso.

Ngoài thành tích 7 lần vô địch tổng sắp, Lance còn là người về nhất ở 22 chặng khác của Tour de France. (1993-1, 1995-1, 1999-4, 2000-1, 2001-4, 2002-4, 2003-1, 2004-5, 2005-1). Bên cạnh đó, anh đạt thành tích 11 chiến thắng ở các chặng đua tính giờ của Tour de France; đội của anh cũng từng thắng 3 lần đua tính giờ trong các năm 2003 – 2004 –2005.

Trong chiến thắng Tour de France năm 2004, Armstrong đã về nhất 5 chặng và trở thành người đầu tiên kể từ 1948 (sau tay đua Gino Bartali) thắng cả 3 chặng leo đèo liên tục (chặng 15-16-17).

Vinh quang lần thứ 7 vào năm 2005 của Armstrong đến với anh vào ngày 24 tháng 7. Đội đua của anh dưới màu áo Kênh truyền hình Discovery đã chiến thắng trong cuộc đua tính giờ đồng đội. Riêng anh chỉ thắng một chặng tính giờ cá nhân. Ngay từ đầu cuộc đua lần này, anh luôn bị Jan Ulrich bám đuổi quyết liệt. Nhưng vào dãy Al-pơ (Alps) và rặng Py-rê-nê (Pyrenees), anh đã trả lời đối thủ một cách xác đáng, ngay cả khi không có đồng đội nào hỗ trợ bên cạnh. Và, Armstrong đã vượt qua đích đến trong sự reo hò cuồng nhiệt của người dân Paris và khách du lịch quốc tế. Anh lập kỷ lục của mọi thời đại: lần thứ 7 liên tiếp vô địch Tour de France.

Lance Armstrong đã tuyên bố giã từ sự nghiệp thi đấu ngay chiến thắng lần thứ 7 này để dành thời gian cho gia đình, cho Trung tâm Lance Armstrong (chuyên hỗ trợ các bệnh nhân ung thư), và sẽ làm huấn luyện viên để dìu dắt các thế hệ sau tiếp tục chinh phục những cung đường mới.


Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường

Ngô Văn Khoai
12-03-2012, 06:33 PM
Người tự kiến tạo đời mình

“Đừng bao giờ nói bạn không thể làm một việc nào đó trước khi bạn thử sức với nó!” Khởi đầu từ một phụ nữ trẻ chưa có kinh nghiệm và kiến thức gì đáng kể trong lĩnh vực kinh doanh, Pam Lontos đã viết nên câu chuyện thành công bằng chính cuộc đời mình. Đó là một câu chuyện đáng để nhiều người học hỏi.


http://prpr.net/wp-content/themes/prpr/images/employees/pam-lontos.jpg

Cô không có bí quyết gì đặc biệt bởi cô luôn bị kiểm soát trong phần lớn cuộc đời mình. Từ nhỏ, cha mẹ luôn cảnh báo rằng cô không được liều lĩnh. Cô không được đi tắm biển vì “dễ bị chết đuối”; cô không được mua sắm ở khu trung tâm thành phố với bạn bè vì “giá cả đắt đỏ”. Đến lúc lập gia đình, cô lại bị chồng thuyết phục từ bỏ ngành tâm lý học, chuyên ngành mà cô rất yêu thích, để chuyển sang ngành sư phạm, làm một nghề “không sợ bị thất nghiệp”, nhưng cũng là công việc cô không hề có chút hứng thú.

Sau ba năm đi dạy ngán ngẩm, Pam bỏ nghề với hy vọng công việc nội trợ và chăm sóc con cái sẽ làm cho cuộc sống của cô có ý nghĩa hơn. Nhưng cô đã nhanh chóng cảm thấy chán ngán và tuyệt vọng.

Tình trạng này đã xảy ra với hàng triệu phụ nữ khác. Pam Lontos, bà mẹ của hai đứa con, có một cuộc sống đầy đủ tiện nghi cùng một người chồng thành đạt nhưng lại thiếu thốn tình cảm. Cô luôn cảm thấy trống rỗng và vô tích sự. Cô chỉ sống vật vờ và có cảm giác rằng mình chẳng đóng góp được gì cho xã hội. Càng nghĩ về điều đó, cô càng trở nên trầm cảm.

Mọi người đối phó với chứng trầm cảm theo nhiều cách khác nhau. Một số vào bệnh viện, số khác thì đắm mình vào rượu và ma túy. Riêng Pam thì lấy giấc ngủ làm cách giải quyết vấn đề của mình – và cứ thế suốt năm năm liên tục. Mỗi sáng cô thức dậy, đưa con đến trường rồi về nhà tìm “hạnh phúc” trong giấc ngủ vùi.

Chỉ mới hơn ba mươi tuổi, cô ngủ 18 tiếng mỗi ngày và tăng cân vùn vụt. Nhiệt huyết, lòng tự tin và niềm vui sống hoàn toàn biến mất nơi cô. Những lúc không ngủ, cô buồn có thể chết đi được.

Nếu cảm thấy cuộc đời không đáng sống nhưng bạn buộc phải sống thì bạn chỉ có một cách duy nhất để thoát khỏi tình cảnh đó: thay đổi. “Cả cuộc đời tôi trước đây luôn có một ai đó quyết định thay tôi, nhưng chẳng có gì tốt đẹp cả.” Thay đổi là một thử thách lớn, Pam phải chui ra khỏi vỏ ốc của mình để tự mình tạo ra một cuộc sống thực sự có ý nghĩa.

Hành động đầu tiên để cô trở về với thế giới đời thường là ghi danh vào một phòng tập thể dục thẩm mỹ. Điều đó nghe có vẻ bình thường, nhưng khoảnh khắc cô bước qua ngưỡng cửa phòng tập, cô như bắt đầu bước vào một cuộc sống mới.

Jim, chủ phòng tập, là một người tinh tế và năng động. Ông lập tức nhận ra rằng Pam cần được giúp đỡ. Ông đã khích lệ để cô có thể gặt hái những kết quả tốt đẹp nhất. Ông cũng cho cô mượn những cuộn băng cassette có những câu chuyện động viên tinh thần. Pam đã nghe đi nghe lại những cuộn băng đó hàng chục lần.

Sau vài tháng luyện tập, Pam trở lại gọn ghẽ như ngày nào và nỗi sợ hãi trong cô cũng tan biến theo. Pam dũng cảm hơn và tự hỏi: Bây giờ mình sẽ làm gì? Đây là câu hỏi cô không bao giờ đủ can đảm nghĩ tới trước đây. Lúc nhỏ, cô phụ gia đình bán giày dép. Có lẽ cô sẽ thích hợp với công việc bán hàng. Và khi chứng kiến bản thân mình thay đổi ngày một tốt hơn, cả về tinh thần lẫn thể chất, cô ấp ủ câu hỏi tại sao mình không bắt đầu từ đây, ngay phòng tập này?

Mặc dù chưa có kinh nghiệm và cũng chưa được huấn luyện trong lĩnh vực bán thẻ hội viên, cô vẫn đề nghị Jim cho cô làm công việc đó: “Anh là người đã cho tôi những cuộn băng cassette đó và khích lệ tôi sống có ích, vậy anh phải thuê tôi chứ!”. Jim không những nhận cô làm nhân viên, mà còn chia sẻ với cô những triết lý sống tích cực, lạc quan yêu đời và giúp cô vượt qua những nỗi sợ hãi. Khi Pam nói từ trước tới giờ cô chưa từng lái xe vào trung tâm thành phố, Jim khuyến khích cô ngồi vào sau tay lái, còn mình ngồi bên cạnh làm hướng dẫn viên, và cứ thế họ lái xe xuống phố.

Khi sự tự tin của cô tăng lên, doanh số cũng tăng theo. Trong vài tuần, Pam lái xe đi khắp nơi và bán được nhiều thẻ hội viên hơn so với những nhân viên khác. Chỉ trong một thời gian ngắn, cô đã trưởng thành vượt bậc. Cô lấy triết lý của Jim làm nền tảng cho mình “Đừng bao giờ nói bạn không thể làm một việc nào đó trước khi bạn thử sức với nó!”.

Thành công của Pam trong năm đó là bước khởi đầu cho thành công sắp tới của cô. Có một trạm phát thanh vừa khai trương trong thành phố. Cô thuyết phục vị giám đốc ở đó nhận cô vào làm nhân viên quảng cáo. Hai bên thỏa thuận là cô làm việc không lương mà chỉ hưởng phần trăm hoa hồng trên doanh thu quảng cáo.

Cô không biết đó là thử thách vô cùng lớn, bởi trạm phát thanh này chưa có tên tuổi, nên không có nhiều thính giả. Cô không biết là mình chỉ có thể bán được quảng cáo cho những công ty nhỏ mà thôi, bởi các công ty lớn chỉ mua quảng cáo ở các đài phát thanh lớn, có số lượng thính giả nhiều hơn. Vì không biết điều đó nên cô gọi tất tần tật mọi công ty lớn và nhỏ để chào mời họ quảng cáo dựa trên chất lượng và tiềm năng phát triển thính giả của đài, hơn là số người nghe hiện tại.

Pam cũng không hề biết doanh số trong khoảng thời gian tháng giêng sau kỳ nghỉ luôn luôn thấp. Nên cô vẫn nỗ lực hết mình trong tháng giêng như những tháng khác, trong khi các nhân viên kinh doanh khác đều lơ là và trông đợi vào tháng hai. Nhờ đó, cô đã kiếm được khoản huê hồng lớn nhất từ trước tới nay trong việc bán quảng cáo trên phát thanh Dallas. Kể từ đó, Pam liên tục dẫn đầu về doanh thu, bằng số tiền bán quảng cáo của sáu nhân viên khác gộp lại.

Cô ngày càng tự tin hơn và đủ can đảm để đối mặt với tình trạng hôn nhân của mình. Sau khi giải quyết một số vấn đề, cô và chồng chia tay nhau.

Công việc ở đài phát thanh cũng có những lúc thăng trầm. Tình hình kinh doanh trở nên hết sức tồi tệ. Pam không biết rằng mọi người thường phải bỏ cuộc khi gặp những thời khắc khó khăn. Mọi người xung quanh cô bỏ việc, nhưng cô lại đề nghị được đảm nhận vị trí mới: Giám đốc kinh doanh. Cấp trên quá bất ngờ, họ không hề phản đối đề nghị của cô. Cô nhận công việc tồi tệ nhất nhưng lại tỏ ra vô cùng phấn khích!

Trong buổi họp đầu tiên, Pam viết mục tiêu phải đạt được trong tháng lên bảng: 100.000 đô la. Mọi người trố mắt kinh ngạc. Về phần mình, Pam bán được trung bình 35.000 đô la mỗi tháng. Cô nghĩ ba nhân viên kia cũng bán được như mình. Sau buổi họp, vị tổng giám đốc gọi cô vào phòng và giải thích, doanh số trung bình của đài chỉ có 42.000 đô la một tháng, phần cô là 35.000 đô la cộng với 7.000 đô la của cả ba nhân viên cộng lại. Vì thế, theo ông mục tiêu 100.000 đô la mà cô đề ra là không thực tế.

Buổi chiều hôm đó, Pam định xem xét lại và hạ mục tiêu xuống còn 50.000 đô la. Nhưng trên đường đi làm vào sáng hôm sau, cô nghe lại cuộn băng cassette mà Jim đã cho cô trước đây. Cô kiên quyết không từ bỏ mục tiêu “viển vông” 100.000 đô la đã đề ra. Ở cuộc giao ban sáng hôm đó, cô khẳng định lại sự tin tưởng của cô đối với họ, rằng họ có thể làm được.

Vào cuối tháng, doanh số cả nhóm đạt 100.000 đô la. Đến tháng mười hai, doanh số lên tới 140.000 đô la. Ba tháng sau, họ đạt doanh thu 180.000 đô la. Gần một năm sau, Pam và bộ phận kinh doanh đạt con số kỷ lục 272.000 đô la. Họ đã giành được những kết quả bất ngờ mặc dù lượng thính giả chỉ tăng trong một chừng mực nhất định.

Chỉ sau hai năm làm việc tại đài ở cương vị Giám đốc kinh doanh, Pam được đề bạt chức Phó chủ tịch phụ trách kinh doanh, vị trí thứ hai sau Tổng giám đốc. Cô không hề biết rằng thông thường phải mất từ năm đến mười năm để đạt đến vị trí này và chưa từng ai được đề bạt thẳng lên chức vụ Phó chủ tịch phụ trách kinh doanh từ vị trí Giám đốc kinh doanh. Cô nói: “Tôi mừng vì mình không hề biết điều này. Nếu không thì giờ này có lẽ tôi vẫn còn là một Giám đốc kinh doanh!”.

Sau bốn năm thành công tại đài phát thanh, Pam từ nhiệm để bắt đầu một cuộc phiêu lưu mới. Ngày nay, Pam Lontos là một diễn giả, tác giả và là chuyên gia tư vấn tiếp thị và kinh doanh nổi tiếng. Hàng ngày, cô vẫn động viên người khác làm theo chính xác những gì mình đã làm – đó là tin vào những gì khả năng của mình có thể vươn tới, chứ không phải khuôn mình trong những hạn chế để làm mình lo sợ và chùn bước.


PAM LONTOS